• Đời sống
  • Đêm kinh hoàng trong hang Hòn Kẽm

    Thứ tư, 1/5/2019 10:05

    TTCT – Vì cháu khóc quá, sợ lộ Mỹ sẽ giết hết dân, người mẹ đó đành chôn sống đứa con ba tháng tuổi do mình rứt ruột sinh ra vào một đêm tối trời của mùa đông năm 1969. Cháu chết đi là để bảo tồn hàng trăm tính mạng dân thường đang chạy giặc trốn tại hang núi Hòn Kẽm.

    Một cái chết khủng khiếp, kinh hoàng, tưởng như trong phim, ấy vậy mà có thật 100% tại vùng thượng nguồn sông Thu Bồn đã gần 40 năm trôi qua. Người mẹ đó tên là Lê Thị Nghê (Năm Nghê) nay đã 73 tuổi. Hiện bà vẫn sống với tâm trí điên tỉnh lẫn lộn trong ngôi nhà tạm tại thôn Linh Kiều, xã Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. Đây là một câu chuyện chưa từng được viết ra nhưng nó đã ám ảnh nhiều thế hệ người dân ở địa phương này, kể cả những dũng sĩ diệt Mỹ thời đó, và họ muốn nó phải được kể lại cho hậu thế.

    Sau chiến dịch Mậu Thân năm 1968, Mỹ tăng cường đánh phá ác liệt những vùng rừng núi và trung du các tỉnh Trung Trung bộ. Thượng nguồn sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam lúc đó là “chiếc nôi cách mạng”, cũng là tâm điểm mà Mỹ thường xuyên tìm đến càn quét và tiêu diệt.

    Những năm tháng kinh hoàng

    Sau trận đánh dữ dội vào đầu tháng 8-1969 của bộ đội và du kích địa phương xã Quế Tân, huyện Quế Tiên, tỉnh Quảng Nam (tên địa danh của thời kỳ đó) bắn rơi một máy bay, bắn cháy hai tàu chiến với hơn 50 lính Mỹ chết, tưởng Mỹ khiếp vía không bao giờ trở lại đây nữa. Nhưng sau hai tháng, vào một sáng ngày đầu tháng 10-1969, Mỹ cho máy bay rải thảm hàng chục tấn bom xuống xã Quế Tân. Sau đó tàu chiến ngược sông Thu Bồn và máy bay đã đổ xuống đây một sư đoàn thủy quân lục chiến nhằm hủy diệt vùng căn cứ cách mạng này để bảo vệ tiền đồn Nông Sơn – một lá chắn trấn thủ che chở Đà Nẵng, Hội An…

    Lúc này ngoài số dân tự sơ tán, còn hơn 200 người thôn Trà Linh (Quế Tân) được cán bộ và du kích xã đưa vào núi Hòn Kẽm trú ẩn. Bấy giờ thôn Trà Linh “vườn không nhà trống” nên lính Mỹ tha hồ đốt sạch, phá sạch. Trâu bò cùng vật nuôi bị bắn chết ngổn ngang, làng quê lúc này điêu tàn trong khói lửa.

    Những ngày đóng quân tại đây, lính Mỹ càn quét lùng sục nhưng không tìm ra được một người dân nào tại thôn, nên nghi họ chạy hết vào núi. Thế là bao nhiêu vũ khí pháo bầy, đại liên… của lính Mỹ xả vào Hòn Kẽm như mưa. Cứ pháo vừa dứt là đến lượt tàu gáo, tàu rọ quần lượn tìm kiếm để tiêu diệt. “Nhưng nguy hiểm hơn là lính Mỹ đi phục từng tốp. Chiều tối, cứ 10 lính Mỹ đi là cõng trên lưng cũng 10 lính Mỹ. Khi bọn chúng rút về cứ điểm đủ 10 là để lại 10 thằng trên lưng ở lại phục kích. Nhiều người chúng ta hi sinh thời đó cũng vì không biết cái trò này” – anh Trần Hùng, một cựu chiến binh cũng trú trong hang thời đó, kể lại.

    Do địch chiếm giữ quá lâu, lúc này dân trú trong hang đang đói và khát nước. May mắn, đêm 6-10 mưa như trút đã cứu khát đồng bào trong hang. Cứ tưởng mưa to địch không phục, Sáu Tiền – một cô gái gan lì – xung phong ra khỏi hang để về rẫy kiếm khoai lang cứu đồng bào. Từ hang bò ra, đi hơn 30 phút vừa đến chân núi, chưa đến rẫy khoai lang thì cô lọt vào ổ phục kích của Mỹ, chúng bắn cô bị thương ở đùi rồi bắt sống. Đêm đó chúng tra tấn cô dã man, cô cố chịu đòn, không hề khai báo với địch lời nào về nơi trú của dân Trà Linh trong hang, thế là rạng sáng 7-10 chúng giết cô.

    Đêm đó và tiếp theo, thấy Sáu Tiền không trở về hang, ai cũng biết chắc cô đã lọt vào tay giặc. “Trong những lần chạy giặc trước, chúng tôi đem lương thực đủ ăn ba ngày, lần này bà con đem theo để đủ ăn năm ngày. Vì cứ nghĩ Mỹ ở độ ba ngày là rút, ai ngờ lần càn ni Mỹ ở tới 10 ngày. Hồi nớ dân ở trong hang đói, khát dữ lắm!” – ông Lê Ngô, 80 tuổi, người thôn Trà Linh cũng chạy giặc lúc đó, hồi tưởng.

    Giết con để cứu dân

    1QjQnld6.jpg
    Mỗi lần nhớ con, bà Năm Nghê đốt nhang đi trong rừng khấn nguyện

    Hang trên núi Hòn Kẽm là một địa đạo do thiên tạo rất hiểm trở, chỉ người dân vùng này mới biết. Sau ngày cô Sáu Tiền chết thì tàu gáo quần lượn nhiều hơn, chúng vừa bay vừa bắn đại liên, M79, ném lựu đạn M26 vào từng vách núi của Hòn Kẽm. “Ngồi trong hang mà nghe nổ ầm vang, cứ tưởng địch đổ quân đến gần hang rồi, ai cũng im lặng ôm nhau run sợ” – ông Ngô vừa kể vừa toát mồ hôi như tắm!

    Trong hang người đông như thế, trẻ con nhiều nhưng không có cháu nào dưới 3 tuổi nên đám trẻ cũng biết sợ, không dám khóc mặc dù rất đói. Bà Năm Nghê thời đó 32 tuổi, bế theo hai con nhỏ – cháu gái lớn Lê Thị Liên, 4 tuổi và cháu trai Lê Tân, 3 tháng tuổi. Bà vừa sợ Mỹ vừa buồn vì chồng mới chết do bom B52 tại làng.

    Nhưng khổ nhất là cháu Tân đói sữa, ngày đêm cứ khóc thét, dỗ hoài không nín. Bà cũng như hàng trăm người trong hang sợ Mỹ nghe tiếng khóc phát hiện nơi trú ẩn của mọi người và giết hết. Có người động viên Năm Nghê: “Chị nên hi sinh đứa con để bảo toàn tính mạng dân trong lúc này!”. Nghe vậy bà bàng hoàng lắm, rồi ai cũng thay phiên ôm ấp cháu, nhưng nó cứ khóc nhiều hơn.

    Súng vẫn nổ, mọi người ngồi trong hang cứ nghĩ lính biệt kích Mỹ đang đến gần hang rồi. Lúc này mọi người ngậm ngùi đành nghe theo mấy anh du kích, lại động viên cô Năm: “Thôi cô hi sinh đứa con đi…!”. Sau hai ngày Sáu Tiền chết do Mỹ giết, đêm đó bà Năm hôn núm ruột đang khóc: “Mẹ không bao giờ bỏ con, nhưng vì để cứu dân làng, con phải ra đi…”. Sau khi cháu tắt thở, bà cởi chiếc áo trong người đùm con lại. Bà bế thi thể của con, bò lên khỏi miệng hang về hướng tây 100m mặc cho mưa rơi, mặc cho đạn pháo bắn rền vang, bà dùng hai tay móc đất ướt lạnh để an táng con mình.

    Sau khi khỏa đất xong, bà ngồi thêm một lúc, dưới ánh chớp của đạn pháo bà thấy lớp đất trên thi thể con đang rục rịch, bà thầm nghĩ: “Con tôi đã sống lại!”. Nhưng rồi không hiểu sao bà lại bốc thêm đất bỏ lên phần mộ của con. Rồi bà chạy về hang tối mò đến bé Liên, ôm con vào lòng, cắn răng nức nở. Mọi người vây quanh im lặng chia buồn cùng mẹ con bà. Bây giờ thì Mỹ không thể phát hiện tiếng khóc của cháu Tân nữa.

    Sau cái chết của cháu Tân ba ngày, mọi người trong hang không còn nghe tiếng pháo rền nữa. Ông Nguyễn Xuân Mỹ, 60 tuổi, cùng thôn với bà Năm, cũng là du kích trong hang lúc đó, kể lại: “Sáng tinh mơ tôi bò lên miệng hang, không thấy máy bay quần lượn, tiếng đạn pháo cũng không còn bắn, đứng trên hang nhìn về thôn Trà Linh xơ xác vắng lặng. Tôi quyết định đi về làng thì đúng là Mỹ đã rút về cứ điểm Nông Sơn”. Dân từ hang núi trở về làng cũ. Rồi sau đó cũng có những cuộc càn quét tương tự của Mỹ diễn ra nhưng những lần này có bộ đội chính qui về đánh trả, Mỹ không trở lại. Thượng nguồn sông Thu Bồn dần dần được bình yên đến ngày giải phóng.

    Nỗi đau không dứt

    Trong chiến tranh, thôn Trà Linh, xã Quế Tân thuộc huyện Quế Tiên, tỉnh Quảng Nam. Sau giải phóng cách đây 23 năm, thôn này được đổi thành thôn Linh Kiều, xã Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.

    Bây giờ con trai của bà Năm đã ra đi gần 40 năm và 33 năm đất nước thanh bình. Gần 200 người dân thôn Trà Linh ngày ấy bây giờ nhân lên gấp ba, đời sống tuy nghèo nhưng vẫn còn may mắn hơn bà Năm. Con gái còn lại – chị Lê Thị Liên – có chồng, một con trai bây giờ cũng nghèo lắm. Hiện nay vợ chồng chị lên tận Nông trường Phước Đức, huyện Phước Sơn (Quảng Nam) nhận chăm sóc khoán 4ha cao su. Vì xa quá anh chị cũng ít khi về thăm mẹ.

    Bà Năm giờ ở một mình trong căn nhà tạm của con gái. Hiện nay bà đang bị nhiều bệnh và sống dưới mức nghèo khổ. Ngoài sự giúp đỡ của bà con lối xóm cùng chạy trú trong hang thời đó thì bà không được Nhà nước trợ cấp một chút gì. Có mấy lần chị Liên làm đơn xin trợ cấp cho mẹ, nhưng ngành lao động – thương binh và xã hội các cấp đều trả lời “không biết xếp mẹ con bà vào diện chính sách gì”.

    Vì ám ảnh triền miên, nhiều năm qua tâm trí bà tỉnh điên lẫn lộn. Chiếc khăn của đứa con ngày xưa, đến nay bà vẫn còn giữ và coi đó là “báu vật” bất ly thân. Đêm cũng như ngày, khi không tỉnh bà bế chiếc khăn đó hát ru. Rồi có những khi bà đốt nhang, một mình vào rừng miệng nói lẩm bẩm đi tìm mộ con. Nhưng mộ con của bà đã mất dấu tích sau khi an táng do mưa quá lớn.

    VŨ CÔNG ĐIỀN
    Bản tin Hội quán
    Đăng ký để được cập nhật tin tức, sự kiện mới nhất.