• Mua Sắm
  • O’HENRY Truyện ngắn CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG – Thân Trọng Sơn dịch và giới thiệu

    Thứ sáu, 8/1/2016 10:01

     O’Henry ( 1862-1910 ) , nhà văn Mỹ, tác giả của gần 400 truyện ngắn đăng trong các nhật báo và tạp chí, sau được in trong mười tập truyện. Cuộc đời của Ông rất phong phú : làm nhiều nghề khác nhau ( dược sĩ, vẽ kỹ thuật và kiến trúc, thư ký, đầu bếp nhà hàng, nhân viên công ty địa ốc, nhân viên xưởng in… ),  từng tham gia ca hát, diễn kịch, vẽ hí họa, có lúc bệnh nặng, có lúc ở tù. Có lẽ vì thế mà bối cảnh các truyện ngắn của Ông cũng rất phong phú, khắc họa xã hội nước Mỹ thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Phần lớn truyện ngắn của Ông có cốt truyện đơn giản, với nhiều tình tiết oái oăm, khắc nghiệt, có khi khôi hài để kết thúc bất ngờ. “Chiếc lá cuối cùng” ( The last leaf ) là một truyện ngắn nổi tiếng, được nhiều nước chọn đưa vào sách giáo khoa.Trong một khu phố nhỏ ở phía đông Quảng trường Washington, các conđường chạy ngoằn ngoèo, cắt quãng và tạo thành những khu vực nhỏ. Những khu vực này không đều nhau, có một dáng vẻ khác thường, đầy những góc cạnh  và đường cong kỳ lạ. Một con đường cắt ngang chính nó một hai lần. Có một họa sĩ nhìn thấy địa hình này cũng có cái lợi. Giả dụ như khi một nhân viên thu ngân được ủy thác đi thu từ các nghệ sĩ tiền hóa đơn giấy, khung vải và tranh vẽ, giả dụ thế, anh ta đi quanh khu vực này và vòng lại chỗ cũ mà không thu được đồng xu nào !Chính vì thế mà chẳng bao lâu các nghệ sĩ đua nhau kéo đến khu làng cổ Greenwich, săn lùng những chiếc cửa sổ trổ hướng bắc, đầu hồi thế kỷ mười tám, gác mái của Hà Lan và giá thuê rẻ. Sau đó họ mang đến vài hộp thiếc, một hay hai bếp lò, thế là hình thành một khu di dân.Ở trên cùng một chung cư ba tầng bằng gạch hai cô gái Sue và Johnsy đặt xưởng vẽ của mình. Một cô đến từ Maine, cô kia, từ California. Hai người gặp nhau trong một quán ăn người Ý  trên đường Số Tám và khám phá cả hai cùng chung sở thích về nghệ thuật, rau diếp xoăn và ống tay áo phồng vai nên quyết định thuê chung căn phòng. Chuyện đó xảy ra vào tháng 5. Đến tháng 11, có một nhân vật giá lạnh và vô hình mà các bác sĩ gọi là Viêm Phổi lẻn vào khu vực này, lấy ngón tay lạnh buốt như tử thần quệt vào nơi này nơi kia. Bên phía đông, kẻ tàn phá này táo bạo lướt tới, hạ gục đến hai mươi nạn nhân, nhưng lại giảm bớt tôc độ khi đi qua những lối chật hẹp và đầy rêu.Viêm Phổi không thể được xem là một quý ông hào hiệp. Một cô gái đôi mươi bé nhỏ, đờ đẫn vì những trận gió ở California lẽ ra chẳng phải làmiếng mồi ngon cho một lão con buôn rắn tay. Vậy mà hắn vẫn tấn công Johnsy; thế là cô nằm bẹp trên chiếc giường sắt, hầu như không cử động, đưa mắt nhìn qua cửa sổ bức tường trơ trụi sầu thảm của căn nhà gạch kế bên.Một buổi sáng, vị bác sĩ ra dấu mời Sue ra ngoài hành lang, nhướng đôi mày rậm, ông nói:“Cơ may cho cô ta là một phần mười,” ông vừa nói vừa rảy cái nhiệt kế cho vạch thủy ngân tụt xuống. “ Và cơ may này tùy thuộc ý chí muốn sống của cô ta. Cái cách mà nhiều con bệnh chỉ chờ công ty mai táng đến làm cho sách thuốc nào cũng vô dụng. Bạn của cô cứ đinh ninh làmình không qua khỏi. Cô ấy có ý gì thế?”“Chị ấy… chị ấy mong có ngày được vẽ vịnh Naples.” Sue đáp.“Không! Không! Cái gì khác, nghiêm túc hơn hội họa kìa. Cô ấy có … cô ấy có bận tâm về điều gì…một người đàn ông chẳng hạn ?”“Một người đàn ông à ? Sue trả lời, giọng rung lên, “một người đàn ông thì có thể nào… mà không, thưa bác sĩ, không có chuyện đó.”“ Vậy thì chỉ là do yếu sức thôi”, vị bác sĩ nói. Tôi sẽ làm mọi cách màkhoa học cho phép, hoặc ít nhất là với tất cả hiểu biết khoa học của tôi. Nhưng khi mà con bệnh của tôi bắt đầu nhẩm tính số lượng xe trong đoàn xe tang thì xem như hiệu lực của thuốc men đã giảm đi một nửa. Nếu cô làm cách nào khiến cô ấy hỏi cô về tay áo măng tô của thời trang mùa đông ra sao, tôi đoan chắc với cô là cơ may khỏi bệnh của bạn cô sẽ là một phần năm chứ không còn là một phần mười.”Sau khi bác sĩ đi khỏi, Sue đi vào xưởng vẽ và khóc đau đớn. Rồi cô lau nước mắt đi vào phòng Johnsy, tay mang giá vẽ, miệng huýt sáo một điệu nhạc vui. Johnsy nằm không động đậy, mặt quay về phía cửa sổ. Sue ngưng huýt sáo, nghĩ là bạn đang ngủ. Cô đặt giá vẽ và bắt đầu dùng bút mực vẽ tranh minh họa cho một tạp chí. Các họa sĩ trẻ phải tự tìm đường đến nghệ thuật bằng cách vẽ hình minh họa cho các truyện đăng trong tạp chí, truyện mà các nhà văn trẻ  viết  để dọn đường đi đến văn học.Trong khi Sue đang phác họa cái quần bảnh bao và chiếc kính một mắt cho nhân vật chính, một chàng cao bồi Idaho, cô nghe một tiếng nói nhỏ, lặp đi lặp lại vài lần. Cô vội đi đến mép giường.Mắt Johnsy mở to. Cô nhìn ra cửa sổ và đếm, đếm ngược: “Mười hai”, rồi sau một lát: “mười một”, sau đấy, “mười”, rồi “chín”, rồi “tám” và “bảy” gần như liền nhau. Sue tò mò nhìn ra ngoài cửa sổ. Có gì ở ngoài đó mà đếm? Chỉ có một khoảng sân trống, buồn thảm và bức tường trơ trụi của căn nhà gạch cách đó chưa tới mười thước. Một dây thường xuân già , gân guốc, cằn cỗi, leo lên đến nửa bức tường gạch. Gió thu lạnh buốt đã vặt gần hết lá, chỉ còn những nhánh khẳng khiu, trơ trụi bám vào mảng tường gạch vỡ vụn.“Chuyện gì thế, cô nàng?” Sue hỏi.“Sáu,” Johnsy đáp, gần như thì thào. “ Bây giờ chúng rụng nhanh quá. Ba hôm trước vẫn còn cả trăm, đếm muốn nhức đầu. Giờ thì dễ rồi. Đấy, một chiếc nữa. Chỉ còn có năm thôi.”“Năm gì chứ, cưng? Nói cho Sue của cưng biết đi.”“Chiếc lá. Trên dây leo thường xuân. Khi chiếc cuối cùng rụng, mình sẽ ra đi. Mình nghiệm ra điều đó từ ba hôm nay. Bác sĩ không nói cho bồ biết sao?”“Ồ, mình chưa bao giờ nghe chuyện tầm phào đó,” Sue càu nhàu, giọng giả vờ tức giận.” Mà mấy chiếc lá thường xuân thì liên quan gì đến việc bạn hồi phục? Mà lâu nay bạn vẫn thích cây thường xuân mà! Đừng ngốc nghếch thế nữa. Sáng nay ông bác sĩ nói với mình là cơ may bạn khỏi bệnh hẳn là…, để xem ông ấy nói gì nào, à ông ấy nói cơ may là mười trong một! Đấy, cũng bằng với cơ may khi ở New York chúng mình đáp tàu điện hay đi bộ ngang qua một căn nhà đang xây. Cố ăn tí cháo đi, đểcho Sue vẽ nốt tranh này rồi đem bán cho tạp chí, mua rượu vang cho cô bé đang bệnh và mua sườn heo cho nó đang thèm đây.”“Khỏi cần rượu vang nữa,” Johnsy vẫn dán mắt ra ngoài cửa sổ,”Thêm một chiếc rụng nữa kìa. Không, mình không ăn cháo. Thế là chỉ còn có bốn. Mình muốn nhìn thấy chiếc cuối cùng rụng trước khi trời tối. Khi ấy mình cũng sẽ ra đi.”“Johnsy cưng ơi,” Sue nghiêng mình gần bạn, “ bồ có hứa với mình lànhắm mắt lại và không nhìn ra ngoài cửa sổ nữa cho đến khi mình vẽ xong không? Mình phải đem giao tranh này ngay ngày mai. Mình cần ánh sáng, nếu không mình sẽ kéo rèm xuống.”“Bạn không thể sang phòng bên mà vẽ sao?”, Johnsy lạnh lùng hỏi. “Mình muốn ở bên cạnh bạn,” Sue nói, “ Hơn nữa, mình không muốn bạn cứ mãi nhìn mấy cái lá thường xuân như thế.”“Khi nào bạn làm xong thì cho mình biết,” Johnsy nói, mắt nhắm lại, tái nhợt và bất động như một pho tượng nằm dài, “ vì mình muốn nhìn chiếc lá cuối cùng rụng. Mình chờ đợi mệt quá rồi. Mình suy nghĩ mệt quá rồi  Mình muốn buông xuôi tất cả, rồi  rơi  xuống, quay tròn rơi xuống như một trong những chiếc lá mỏi mệt kia.”“Thôi ráng ngủ đi,” Sue nói, “ Mình phải đi mời ông Berhman lên ngồi làm mẫu cho mình vẽ ông thợ mỏ già sống ẩn dật. Mình chỉ đi một phút. Đừng cựa quậy cho đến khi mình trở lại.”Ông già Berhman là họa sĩ sống ở tầng trệt, bên dưới phòng hai cô gái. Ông ngoài sáu mươi, có chòm râu dài và xoăn chảy dài từ cái đầu to tướng xuống một thân hình thấp nhỏ, kiểu như ông Moses trên bức điêu khắc của Michael Angelo. Berhman là cả một sự thất bại trong nghệ thuật.  Ông đã cầm cọ vẽ suốt bốn mươi năm mà chưa bao giờ mon menđến được mép ngoài của cõi nghệ thuật. Lúc nào ông cũng muốn vẽ nên một kiệt tác nhưng chưa bao giờ bắt đầu. Vài năm nay ông không vẽ được gì, chỉ thỉnh thoảng vài bức tranh tồi mang tính thương mại hay quảng cáo. Ông chỉ kiếm tiền chút đỉnh bằng cách ngồi làm mẫu chođám họa sĩ trẻ không đủ tiền trả theo giá  người mẫu chuyên nghiệp. Ông uống rượu gin như hũ chìm và cứ luôn nhắc đến kiệt tác sắp đến của mình. Ngoài ra, đấy là một ông già nhỏ thó mà dữ dằn, thường hay mạt sát cay độc thói yếu đuối của bất cứ ai, và tự coi mình là người bảo vệ trung thành cho hai cô họa sĩ trẻ sống ở tầng trên.Sue tìm thấy Barhman nồng nặc mùi rượu dâu trong căn phòng tối mù ởbên dưới. Trong góc, trên giá vẽ là một khung vải trống trơn đang chờ đợi từ hai mươi lăm năm nay nét cọ đầu ti….

    Bản tin Hội quán
    Đăng ký để được cập nhật tin tức, sự kiện mới nhất.